Vốn và cấu trúc
Bảo lãnh hoàn thành
Còn gọi là bảo đảm hoàn thành, bảo lãnh hoàn thành xây dựng.
Bảo lãnh hoàn thành là một cam kết của nhà tài trợ dự án hoặc một bên liên kết có khả năng tín dụng nhằm tài trợ cho các khoản vượt chi phí và hoàn thành việc xây dựng, được đưa ra với bên cho vay hoặc thực thể dự án chứ không phải với từng nhà đầu tư EB-5. Nó bảo đảm cho công trình, không phải cho vốn của nhà đầu tư và không phải cho việc làm.
Điều nó quyết định
Nó trả lời câu hỏi mà ngân sách không thể: ai trả tiền nếu dự án hết tiền trước khi hoàn thành. Đối với một nhà đầu tư EB-5, điều đó quan trọng vì việc xây dựng dừng lại đồng nghĩa với việc tạo việc làm dừng lại. Thuật ngữ này đến từ lĩnh vực tài chính xây dựng và bất động sản, không phải từ luật di trú. Nó không được định nghĩa trong 8 U.S.C. 1153(b)(5), trong 8 CFR 204.6, hay trong bất kỳ chương nào trong tám chương của USCIS Policy Manual Volume 6, Part G, và nó không xuất hiện trong bất kỳ hoạt động lập quy EB-5 nào trên Federal Register. Trong cấu trúc trung tâm khu vực thông thường, doanh nghiệp thương mại mới cho một thực thể tạo việc làm vay khoản vốn gộp, nên bảo lãnh chạy đến doanh nghiệp thương mại mới với tư cách là bên cho vay, và thường cũng chạy đến bên cho vay xây dựng ưu tiên. Nó không chạy đến từng nhà đầu tư, và đó là điểm cần kiểm tra. Điều mà luật có quy định rõ là cam kết ngược lại. Vốn được đầu tư với một tỷ suất sinh lợi được bảo đảm bị loại khỏi định nghĩa vốn theo 8 U.S.C. 1153(b)(5)(D)(ii)(III)(cc), điều khoản không đặt ra giới hạn về việc ai đưa ra bảo đảm đó. Vốn chịu một quyền hợp đồng được hoàn trả, chẳng hạn như một khoản mua lại bắt buộc hoặc một quyền chọn bán (put) do nhà đầu tư nắm giữ, bị loại theo (dd), nhưng (dd) chỉ chạm đến một thỏa thuận giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp thương mại mới, và (D)(ii)(IV) bảo lưu một quyền chọn mua lại chỉ có thể thực hiện theo toàn quyền quyết định của doanh nghiệp. USCIS nêu cùng quy tắc chịu rủi ro tại 6 USCIS-PM G.2(A)(2): một khoản lợi nhuận được bảo đảm thì không chịu rủi ro, và phải có rủi ro thua lỗ và cơ hội sinh lời. Vậy có hai điểm cần kiểm tra. Đọc bảng cân đối kế toán của bên bảo lãnh, vì một bảo lãnh có giá trị bằng giá trị của bên bảo lãnh, và USCIS không xem xét cũng không xác nhận nó. Sau đó xác nhận rằng bảo lãnh dừng lại ở việc hoàn thành dự án và về bản chất không hứa hoàn lại tiền cho nhà đầu tư, vì một cam kết về lợi nhuận hoặc hoàn trả chạm đến nhà đầu tư sẽ đặt chính vốn hợp lệ vào tình trạng có vấn đề.
Thuật ngữ liên quan
- Thư phụThư phụ là một cam kết bằng văn bản riêng biệt giữa một dự án EB-5 và một nhà đầu tư, nằm ngoài các tài liệu chào bán chính và làm thay đổi nội dung của các tài liệu đó chỉ riêng cho nhà đầu tư ấy. Đây là một thuật ngữ trong thực hành chứng khoán chứ không phải của USCIS, và việc nó có khiến nhà đầu tư mất đơn hay không tùy thuộc vào cam kết mà nó mang theo.
- Chiến lược thoái vốnChiến lược thoái vốn là tên gọi trong ngành cho cách thức và thời điểm vốn đã đầu tư dự kiến quay về với nhà đầu tư, dù thông qua việc hoàn trả khoản vay dự án, một thương vụ bán, một lần tái cấp vốn hay một lần mua lại. USCIS không định nghĩa thuật ngữ này, và luật di trú giới hạn nó: vốn mà nhà đầu tư có quyền theo hợp đồng để lấy lại thì hoàn toàn không được tính là vốn.
- Thỏa thuận xếp hạng dưới và giữa các chủ nợMột thỏa thuận xếp hạng dưới đặt quyền đòi của một chủ nợ đứng sau quyền đòi của chủ nợ khác, và một thỏa thuận giữa các chủ nợ thiết lập thứ tự hoàn trả, quyền kiểm soát và quyền thực thi giữa hai hay nhiều bên cho vay đối với cùng một dự án. Cả hai đều không phải là một công cụ EB-5. Cả hai đều xuất hiện trong EB-5 bởi vì khoản vay của doanh nghiệp thương mại mới thường là nợ cấp dưới trong cấu trúc vốn.
Đã đối chiếu với nguồn sơ cấp vào 10 tháng 8, 2026. Quay lại thuật ngữ
