Vốn và cấu trúc

Mô hình cho vay

Còn gọi là cấu trúc cho vay.

Mô hình cho vay là cấu trúc trung tâm khu vực trong đó doanh nghiệp thương mại mới cho một thực thể tạo việc làm riêng biệt vay vốn nhà đầu tư đã được gộp chung, thường là một công ty do nhà phát triển dự án kiểm soát, thay vì nắm một phần sở hữu trong đó.

Điều nó quyết định

Luật định nghĩa hai công ty một cách riêng biệt: doanh nghiệp thương mại mới là thực thể nhận vốn nhà đầu tư, còn thực thể tạo việc làm là thực thể nhận vốn đó từ doanh nghiệp và chịu trách nhiệm về các việc làm, 8 U.S.C. 1153(b)(5)(D)(vi) và (v), một thuật ngữ mà luật gắn với chương trình trung tâm khu vực. Cái làm cho một cấu trúc trở thành mô hình cho vay thay vì mô hình vốn cổ phần là vị thế mà doanh nghiệp nắm giữ trong bên vay, một quyền đòi của chủ nợ thay vì một phần sở hữu, và USCIS nói rằng kế hoạch kinh doanh nộp kèm Mẫu I-956F nên nêu rõ đó là loại nào, liệt kê phần vốn cổ phần, khoản vay hoặc một số thỏa thuận tài chính khác. Việc nhà phát triển kiểm soát là thông thường nhưng không phải là một yếu tố cấu thành: thực thể tạo việc làm có thể không liên quan, và luật giữ một nhãn riêng, thực thể tạo việc làm có liên kết, cho một thực thể do những người đứng sau trung tâm khu vực hoặc doanh nghiệp kiểm soát, 8 U.S.C. 1153(b)(5)(D)(i). Khoản vay chạy từ doanh nghiệp sang thực thể tạo việc làm chứ không bao giờ từ nhà đầu tư sang doanh nghiệp, bởi vì tiền nhận để đổi lấy một giấy nợ, trái phiếu, nợ chuyển đổi hay bất kỳ thỏa thuận nợ nào khác giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp thì hoàn toàn không phải là vốn, 8 U.S.C. 1153(b)(5)(D)(ii)(III)(bb). Matter of Izummi, bản thân là một vụ án về một hợp danh cho nhà đầu tư vay tiền để chuyển tiếp, yêu cầu toàn bộ số tiền phải được cung cấp cho doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp chịu trách nhiệm gần nhất về các việc làm, nên các khoản phí hành chính, quản lý, pháp lý, môi giới và phát hành mà doanh nghiệp trả trước khi tiền đến tay bên vay không được tính vào khoản đầu tư tối thiểu. Việc hoàn trả đưa tiền trở lại doanh nghiệp chứ không phải cho nhà đầu tư, và luật ràng buộc việc tái triển khai vào điều kiện thực thể tạo việc làm đã hoàn trả khoản vốn nó được cho vay, 8 U.S.C. 1153(b)(5)(F)(v)(I)(cc). Nhãn này là cách dùng của ngành: cả luật lẫn USCIS đều không viết ra chữ "loan model".

Căn cứ pháp lý: 8 U.S.C. 1153(b)(5)(D)(i), (D)(ii)(III)(bb), (D)(v) và (D)(vi); 8 U.S.C. 1153(b)(5)(F)(i) và (F)(v)(I)(cc); Matter of Izummi, 22 I&N Dec. 169, 179 (Assoc. Comm. 1998); Cẩm nang Chính sách USCIS, Tập 6, Phần G, Chương 5, Mục B.2 (https://www.uscis.gov/policy-manual/volume-6-part-g-chapter-5); Cẩm nang Chính sách USCIS, Tập 6, Phần G, Chương 2, Mục A.2 và A.3 (https://www.uscis.gov/policy-manual/volume-6-part-g-chapter-2)

Nơi được giải thích đầy đủ

Các trang đi sâu vào mô hình cho vay thay vì chỉ nhắc đến.

Thuật ngữ liên quan

  • Mô hình vốn cổ phầnMô hình vốn cổ phần là tên gọi trong ngành cho cấu trúc trong đó doanh nghiệp thương mại mới nắm cổ phần sở hữu trong pháp nhân tạo việc làm thay vì cho pháp nhân đó vay. Nó chỉ mô tả nhánh đó của giao dịch: vốn của chính nhà đầu tư luôn đi vào doanh nghiệp thương mại mới dưới dạng vốn cổ phần, không bao giờ dưới dạng khoản vay.
  • Nợ mezzanineNợ mezzanine là khoản vay xếp hạng thấp hơn bên cho vay ưu tiên và cao hơn mọi chủ sở hữu vốn cổ phần, và trong mô hình cho vay của trung tâm khu vực, đây là vị trí thường gặp của khoản vay mà doanh nghiệp thương mại mới cấp cho thực thể tạo việc làm. Nó mô tả khoản vay đó, không phải phần vốn của chính nhà đầu tư, vốn phải là vốn cổ phần trong doanh nghiệp thương mại mới chứ không phải là nợ.
  • Cấu trúc vốn (capital stack)Capital stack là thứ tự xếp hạng các nguồn tài trợ của một dự án theo mức độ ưu tiên của quyền đòi, từ nợ ưu tiên (senior debt), được trả trước và chịu lỗ sau cùng, xuống qua nợ trung gian (mezzanine debt) và vốn cổ phần ưu đãi (preferred equity) đến vốn cổ phần thường (common equity), được trả sau cùng và chịu những khoản lỗ đầu tiên. Đây là một thuật ngữ tài chính chứ không phải thuật ngữ EB-5: không có điều gì trong đạo luật hay quy định EB-5 ấn định vị trí xếp hạng bắt buộc của tiền EB-5 trong một dự án.
  • Tài trợ bắc cầuTài trợ bắc cầu là khoản nợ hoặc vốn cổ phần tạm thời mà một nhà phát triển hoặc người điều hành của một doanh nghiệp thương mại mới sử dụng để khởi động một dự án trước khi vốn EB-5 về, và sau đó vốn EB-5 sẽ thay thế nó.

Đã đối chiếu với nguồn sơ cấp vào 10 tháng 8, 2026. Quay lại thuật ngữ