Thuế và cư trú
Thuế thu nhập tiểu bang
Còn gọi là thuế tiểu bang, cư trú thuế tiểu bang, cư trú tiểu bang.
Thuế thu nhập tiểu bang là một tầng thuế thu nhập thứ hai mà hầu hết các tiểu bang Hoa Kỳ đánh vào cư dân của mình trên toàn bộ thu nhập bất kể kiếm được ở đâu, với tình trạng cư trú được xác định theo đạo luật riêng của mỗi tiểu bang chứ không phải theo các phép thử cư trú liên bang hay theo tình trạng di trú, nên một gia đình EB-5 có thể trở thành cư dân của một tiểu bang dựa trên những sự kiện chẳng liên quan gì đến thẻ xanh.
Điều nó quyết định
Mỗi tiểu bang tự viết phép thử của riêng mình. Theo Cal. Rev. & Tax. Code 17014(a), California coi là cư dân mọi cá nhân ở trong tiểu bang vì mục đích khác với tạm thời hoặc nhất thời, và mọi cá nhân cư trú thường xuyên trong tiểu bang mà đang ở bên ngoài tiểu bang vì một mục đích tạm thời hoặc nhất thời. New York đánh thuế như cư dân đối với bất kỳ ai cư trú thường xuyên trong tiểu bang, tùy thuộc vào những ngoại lệ hẹp về đếm ngày, và tách riêng, bất kỳ ai không cư trú thường xuyên tại đó nhưng duy trì một nơi ở thường trú trong tiểu bang gần như suốt cả năm và ở đó từ 184 ngày trở lên, với bất kỳ phần nào của một ngày được tính là một ngày. Florida nằm ở đầu bên kia: điều VII mục 5(a) của hiến pháp tiểu bang cấm tiểu bang đánh thuế thu nhập của thể nhân vượt quá các khoản có thể khấu trừ vào thuế liên bang, đó là lý do không có thuế thu nhập cá nhân ở đó. Điểm cần lưu ý khi hoạch định là thời điểm chứ không phải thuế suất. Khoản chênh lệch $250,000 giữa mức đầu tư $800,000 và $1,050,000 chỉ trả một lần, trong khi thuế tiểu bang được trả mỗi năm gia đình còn cư trú.
Nơi được giải thích đầy đủ
Các trang đi sâu vào thuế thu nhập tiểu bang thay vì chỉ nhắc đến.
Thuật ngữ liên quan
- Hiệp định thuếHiệp định thuế là một thỏa thuận song phương phân bổ quyền đánh thuế giữa hai quốc gia, và điều khoản phân định nơi cư trú (tie-breaker) của nó quyết định quốc gia nào trong hai nước được đánh thuế một người trên thu nhập toàn cầu, một lựa chọn mà đối với người giữ thẻ xanh vươn xa hơn cả hóa đơn thuế, chạm tới thuế xuất cảnh (expatriation) và tới việc liệu bản thân tấm thẻ xanh có còn tồn tại hay không.
- Thu nhập toàn cầuThu nhập toàn cầu là quy tắc theo đó một người cư trú của Hoa Kỳ vì mục đích thuế, bao gồm cả người giữ thẻ xanh mà tình trạng cư trú vẫn còn là có điều kiện, bị đánh thuế trên thu nhập từ mọi nguồn ở bất kỳ đâu trên thế giới chứ không chỉ trên thu nhập phát sinh bên trong Hoa Kỳ.
- Ngày bắt đầu cư trúNgày bắt đầu cư trú là ngày một công dân nước ngoài trở thành cư dân Hoa Kỳ cho các mục đích thuế thu nhập, để rồi thu nhập toàn cầu bị đánh thuế kể từ ngày đó trở đi: ngày hiện diện đầu tiên với tư cách thường trú nhân hợp pháp theo phép thử thẻ xanh (green card test), ngày hiện diện đầu tiên trong năm theo phép thử hiện diện đáng kể (substantial presence test), hoặc ngày sớm hơn trong hai ngày đó khi cả hai phép thử đều được đáp ứng.
- Thuế xuất cảnh và từ bỏ tư cách (expatriation)Thuế xuất cảnh là khoản thu theo giá thị trường (mark to market) theo 26 U.S.C. 877A, coi toàn bộ tài sản của một người từ bỏ tư cách thuộc diện chịu thuế (covered expatriate) như được bán theo giá trị thị trường hợp lý vào ngày trước khi người đó từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ hoặc tư cách thường trú nhân dài hạn tại Hoa Kỳ.
- Schedule K-1Schedule K-1 (Form 1065) là bản kê hằng năm mà một công ty hợp danh (partnership) cấp cho mỗi thành viên góp vốn, báo cáo phần phân chia của thành viên đó trong thu nhập, lợi tức, khoản lỗ, khoản khấu trừ và tín thuế của công ty hợp danh, mà thành viên góp vốn sau đó phải khai trên tờ khai thuế của chính mình bất kể có khoản tiền mặt nào thực sự được phân phối hay không.
Đã đối chiếu với nguồn sơ cấp vào 10 tháng 8, 2026. Quay lại thuật ngữ
